Kỹ thuật trồng xoài Đài Loan

Khoảng 5 - 6 tháng sau khi ghép cây con cao độ 60 - 100cm là có thể đem trồng. Không để quá lâu trong vườn ươm, cây già là không tốt.

Cây đem trồng phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn: đường kính, chiều cao cây, sạch bệnh,... Trồng vào mùa xuân ở miền Bắc, hoặc đầu mùa mưa ở miền Nam. Khi trồng bắt buộc bộ lá trên cây đã thành thục, không mang cây đi trồng khi cây đang có lộc non.

xoài đài loan


 Hố trồng mỗi chiều 80 - 90cm (ngang, dọc, sâu) bỏ phân hữu cơ, đất màu và phân lân xuống hố.

Khoảng cách: tùy thuộc vào giống, điều kiện đất đai, độ dốc mà có thể bố trí 10 x 10m, 12 x 12m hoặc 14 x 14m. Trồng xong phải tưới đủ nước, phủ gốc, tìm cách che cho cây con vài tháng đầu (có thể dùng cây chuối đu đủ, các cây phân xanh trồng xen trong vườn xoài lúc xoài còn nhỏ).

Kỹ thuật chăm sóc xoài Đài Loan

Chú ý khâu tưới cho cây khi còn nhỏ nhất là về mùa khô, nắng to, nhiệt độ cao. Đồng thời phủ gốc giữ ẩm, làm sạch cỏ và tỉa các cành khô, cách cành vườn giữ cho tán cây thông thoáng.

Phân bón cho xoài tốt nhất dùng phân chuồng hoai mục, bùn ao, bùn sông phơi khô đập nhỏ và bón bổ sung phân khoáng với lượng phân hỗn hợp như nhau.

+ Cây con ở vườn ươm đã ghép mỗi cây 200 - 300g, tỷ lệ N: P: K là 14 : 14 : 14

+ Cây còn non mỗi cây cây 200 - 500g; Tỷ lệ N: P: K là 14 : 14 : 14 hay là 12 : 12 : 12

Toàn bộ phân chuồng phân lân vào tháng 12 bón 250g N và toàn bộ kali vào tháng 2 và lần thứ 3 bón 250g N còn lại vào tháng 6.

xoài đài loan

 Khi bón phân cho cây lớn đã ra quả nên đào những hố nhỏ sâu theo vòng tròn ở mép ngoài tán cây.

Ở nước ta thời gian bón phân nên chia làm hai: Lần 1 khi bắt đầu mùa mưa và lần 2 vào lúc vừa thu hoạch xong.

Để giúp cây có khả năng ra hoa đều các năm và có nhiều quả nên dùng các hóa chất như: Enthefon (2 Cloroetil) 1ml chất hữu hiệu pha trong 1 lít nước hoặc dung dịch KNO3 1% phun lên trên lá và những cành ở ngoài tán. Tùy theo độ lớn của tán cây có thể dùng 35-50 lít dung dịch phun cho 1 cây.

Phòng trừ sâu bệnh

Đây là một phần quan trọng có ảnh hưởng đến sinh trưởng, ra hoa, đậu quả, năng suất và phẩm chất của vườn xoài.

NHỮNG LOẠI SÂU HẠI CHÍNH

* Rầy xanh (còn gọi là rầy nhẩy)

Rầy dài 3-5mm, màu xanh đến xanh hơi nâu, hình dạng con tương tự con ve sầu . Rầy chích hút nhựa ở đọt lá mặt dưới và chùm hoa. Rầy chích hút nhựa ở đọt lá mặt dưới và chùm hoa. Rầy cái đẻ trứng ở cuống chùm hoa và bên trong gân lá. Sau 4 - 10 ngày nở trứng. Sâu non chích hút làm rụng hoa. Rầy tiết dịch gây bệnh bồ hóng, làm cây kém phát triển. Trên cây xoài rẫy  thường phá hoại từ tháng 10 dương lịch đến tháng 6 năm sau.

Phòng trị rẫy bằng cách dùng bẫy đèn khi rẫy chưa đẻ trứng hoặc phun nước xà phòng 5g/lít vào cây ra hoa cách 2-4 ngày/lần. Tránh dùng nồng độ cao không ảnh hưởng đến hoa. Hoặc có thể dùng Bassa, Mipcin, Applaud, Azodrin, Sevin nồng độ 0,15 - 0,20% để phun 2 - 3 lần, cách 5-7 ngày/lần.

* Ruồi đục quả

Gây hại trên nhiều đối tượng như cam, quýt, xoài, táo, ổi, nhãn... là đối tượng kiểm dịch của nhiều nước khi nhập khẩu quả tươi.

Ruồi cái đục vỏ quả đã già, đẻ trứng dưới lớp vỏ. Trứng nở thành sâu non, sâu non ăn thịt quả, gây thôi và dụng quả.

Cách tròng trừ: Không để quả chín lâu trên cây. Phun Azodrin 0,1%; Bassa 0,25%; BI58 0,1% hoặc dùng bã dẫn dụ ruồi; như dứa, cam, chuối chín hay chất Methyl eugenol trộn với thuốc sát trùng không có mùi hôi, làm bẫy để diệt ruồi như các diệt ruồi vàng dối với cam quýt. Cũng có thể dùng phương pháp bao quả bằng bao giấy cũng như ngừa được sự chích hại quả của ruồi vàng.

* Sâu đục thân

Sâu trưởng thành là bọ rẫy cánh cứng, dài khoảng 2,5cm, màu đen, có sừng dài, râu đỏ. Sâu đẻ trứng vào trên những vết thương có sẵn trên cây hoặc dùng hàm dưới cắn tạo vết thương và đẻ trứng vào đó. Sâu non nở ra đục vào phần dưới vỏ để ăn và phát triển. Thân chính và cành lớn là đối tượng chính bị sâu cắn phá. Sâu non hóa nhộng trong 1 bao nằm bên trong lớp vỏ cây.

Cách phòng trừ:

- Cần tránh tạo các vết thương trên cây như kích thích cây ra hoa bằng cách dùng dao băm gốc.

- Dùng bẫy đèn để diệt sâu trưởng thành

- Tiêm vào lỗ đục các loại thuốc có tính xông hơi mạnh như Methyl Parathion, Thiodan, Diazinon... và bịt các đục bằng đất sét để tiêu diệt sâu non.

* Sâu đục cành

Gây hại bằng cách cắn tiện ngang ngọn của các cành non để đẻ trứng vào; sâu non đục vào mô gỗ làm cành bị chết khô. Thường gây hại trong mùa mưa. Những cành ngọn sắp ra hao cũng thường bị hại nặng. Cần phát hiện các cành bị sâu sâu đục và đẻ trứng. Cắt bỏ các cành này đem đốt để diệt sâu non bên trong.

* Rệp sáp

Rệp trích hút nhựa ở lộc non, các nhánh và cuống quả xoài. Đây cũng là hai loại rệp sáp chích hút trên cam quýt. Dùng Supracide 0,1%, Dimecron, Bi58, Hostathion với nồng độn 0,2% hoặc Polysulfur calci 0,5o bôme để phun.

*Rệp dính

Rệp chích hút nhựa cây ở mặt dưới lá, cành non và cả lá nói chung. Cách phòng trị giống như đối với rệp sáp.

* Sâu hại hoa

Đây là một loại bướm nhỏ, nâu, sải cách 18mm. Sâu mầu đỏ nâu, đầu đen, ban ngày nằm trong bao tơ móng ở cuống chùm hoa, đêm chui ra ăn hoa, sâu hóa nhộng trong kén kín dính ở cuống chùm hoa.

Phòng trị bằng cách phun Azodrin, Monitor, Dimecron... 0,15 - 0,20% vào buổi chiều khi sâu chưa hóa nhộng.

BỆNH HẠI XOÀI

* Bệnh tán thư

Đây là bệnh quan trọng nhất đối với xoài, nhất là trong mùa mưa có độ ẩm cao và nhiệt độ cao. Nấm bệnh gây hại trên cành non, lá, hoa và quả.

Trên lá đốm bệnh màu xám nâu, tròn hay có góc cạnh, tạo ra những đốm cháy và rách lá, cuối cùng làm rụng lá. Bệnh làm rụng hoa và thối đen các chùm hoa. Còn trên các quả lúc đầu chỉ xuất hiện các chấm nâu nhỏ, sau đó phát triển thành các đốm thối đen lõm xuống ở vỏ quả làm quả bị chín ép hoặc thối khi bảo quản.

Dùng Benlate nồng độ 0,1%, Copper-B 0,25%, hay Mancozeb 0,3% để phun từ khi hoa nở đến 2 tháng sau, 7 ngày phun 1 lần. Sau đó mỗi tháng phun 1 lần.

* Bệnh thối quả, đọt lá

Do nấm Diplodia natalensis gây hại nặng trong điều kiện nóng ẩm trong mùa mưa. Trên nhánh đọt lá có các đốm sẫm màu, lan dần trên các cành non cuống lại làm lá biến màu nâu, biên lá cuốn lên. Cành bị khô chẻ dọc cành bị bệnh thấy bên trong mạch dẫn nhựa tạo thành những sọc nâu.

Bệnh hại quả trong thời kỳ bảo quản và vận chuyển làm thối phần thịt quả chỗ gần cuống hoặc ở chỗ vở bị xây sát hay bị bầm dập. Quả hái không mang theo cuống cũng dễ bị bệnh xâm nhập và lây lan sau 2 - 3 ngày.

Phòng bệnh tốt nhất lúc hái quả tránh bầm dập, xây sát. Phun Benlate nồng độ 0,01%, Cooper-B (0,1%) với lượng 10 lít cho cây trước lúc thu hoạch 2 tuần.

Quả sau khi thu hoạch được sử lý nhúng vào nước ấm 55oC chứ 0,06 - 0,1% Benlate để ngăn ngừa bệnh thối quả và thán thu. Cũng có thể nhúng cuống quả hay cả quả vào thuốc gốc đồng hay dung dịch Borax (hàn the) pha loạng nồng độ 0,6%. 

Đề phòng bệnh cho cây con khi ghép cần chọn mắt ghép tốt trên cây khỏe và vệ sinh dụng cụ ghép.

* Bệnh cháy lá

Bệnh phát triển trong mùa mưa gây hại lá, cành và quả. Trên quả đốm bệnh tròn mọng nước sau đó lan nhanh làm thối quả. Bệnh lây lan nhờ nước mưa.

Phòng trừ bệnh bằng cách cắt bỏ lá bệnh, các cành bị bệnh để giảm nguồn lây lan. Phun Cooper-Zn, Cooper-B, Benomyl.

* Bệnh đốm lá

Do nấm Pestalotia mangiferae hại lá và quả qua vết thương hay vùng tiếp xúc. Trên lá đốm bệnh có hình bầu dục to, màu nâu nhạt, tâm xám trắng, có thể làm rách lá. Trên quả vùng miễn có màu đen, bị nhăn nheo. Phòng trị có thể dùng các loại thuốc như đối với bệnh cháy lá.

* Bệnh phấn trắng

Do nấm Odium mangiferae gây hại trong điều kiện nóng ẩm trong mùa mưa hoặc có sương đêm. Nấm bệnh tạo thành  một lớp phấn trắng trên lá non và chùm hoa, bệnh thường phát hiện từ ngon các chùm hoa lan dần xuống cuống hoa, lá non và cành. Thường hoa bị nhiễm bệnh trước khi thụ phấn và quả còn rất nhỏ đã bị bệnh làm cho quả biến dạng méo mó, nhạt màu và rụng.

Phòng trị: Phun lưu huỳnh - vôi, tỷ lệ pha 1:1 100, Cooper-B. Benomyl hoặc bột lưu huỳnh định kỳ 10 - 15 ngày 1 lần với nồng độ 0,2%.

* Bệnh muỗi đen

Do nấm Capnodium mangiferae, nấm bệnh bám thành mảng trên lá, nấm không gây gây hại trực tiếp vì không hút dinh dưỡng từ cây, nó chỉ phát triển trên chất bài tiết do rầy xanh, rệp dính, rệp sáp... chích hút tiết ra và tạo thành lớp nấm đen bám dính trên mặt lá làm giảm quang hợp của lá. Bệnh phát triển mạnh trong mùa nắng.

Phòng bệnh bằng cách phun thuốc để tiêu diệt các loại rẫy bằng Bassa, Trenbon, Thiodan, Dimecron. Có thể phun các loại thuốc trừ nấm có nguồn gốc đồng hay bột lưu huỳnh với nồng độ 0,2%.

* Bệnh đốm vi khuẩn

Do vi khuẩn Psodomonas mangiferae thường gây hại trên cành non, lá, cuống lá, cuống quả gây rụng lá, rụng quả khi còn non,

Phòng trị bằng cách cắt bỏ các cành lá bị bệnh, phun các loại thuốc có gốc đồng (Cu) như Cooper-zinc, Kasuran để hạn chế tác hại của bệnh.

Viết bình luận